Kiên cường đấu tranh, thắng lợi trọn vẹn

Kỳ 3: Gặp những phu công tra (*) cuối cùng

CSVN – Những người phu công tra – tuy đã phải trải qua nhiều lao khổ trong bóng đêm nô lệ, nhưng cuối cùng họ cũng được hưởng niềm hạnh phúc độc lập tự do khi nước nhà thống nhất, được nở một nụ cười đón bình minh lên trên vườn cao su. Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày truyền thống ngành, chúng tôi muốn tìm đến thăm hỏi các bác, nhưng trên nhiều vùng cao su, hầu như đã không còn vì đa số đã về cõi vĩnh hằng. Nhưng thật may mắn khi cũng vẫn còn đó một vài bác thợ công tra xưa, đang vui sống những ngày cuối đời cùng cháu con trên những làng cao su ấm áp.
Bác Hà Kim Mích

Bác Hà Kim Mích

Quý nhất là đã trở thành người chủ của vườn cây

Năm 1909, Đồn điền cao su CEXO của Pháp đến vùng Lộc Ninh (Bình Phước) thu mộ phu mở đất trồng cao su. Lúc ấy nơi đây còn là vùng rừng thiêng nước độc, lớp lớp phu công tra đã đổ bao mồ hôi công sức, thậm chí cả máu xương và mạng sống cho quá trình tư bản Pháp bóc lột tài nguyên bản xứ. Từ những năm 1930 về sau, sự lao khổ của dân phu công tra nơi này có phần giảm bớt, bởi ảnh hưởng từ sự kiện “Phú Riềng Đỏ”, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng (thành lập ngày 28/10/1929). Trong khoảng thời gian từ ngày 30/1/1930 đến 6/2/1930, Chi bộ đã lãnh đạo công nhân ở đồn điền cao su Phú Riềng làm nên cuộc đấu tranh “long trời lở đất”, khiến bọn chủ Pháp phải co vòi. Sau thời điểm lịch sử ấy thì ở CEXO cũng đã có cán bộ của Đảng vào thành lập  Hội  tương  tế đấu tranh cho quyền lợi công nhân, nên sự hà khắc của bọn chủ Pháp đã giảm nhiều.

Năm 1952, hai vợ chồng bác Nguyễn Văn Thoan – Hoàng Thị Thái, lúc ấy mới ngoài 20 tuổi, đã từ Thái Bình vào làm công tra tại đồn điền CEXO. Bác Hoàng Thị Thái năm nay đã 91 tuổi vẫn nhớ như in số thẻ công tra của bác là 2522, còn của bác trai là 2521.

Bác kể với chúng tôi rằng, rất may mắn cho lớp phu công tra sau này bởi sự bóc lột tàn bạo, tra tấn dã man đã giảm đáng kể từ sau sự kiện “Phú Riềng Đỏ”. Bác vẫn còn kinh hãi khi từng nghe kể về lớp công nhân trước đó, có người mang bầu lỡ phạm lỗi, đã bị bọn chủ đào lỗ cho nằm úp bụng bầu xuống lỗ mà đánh roi vào mông!

Vợ chồng bác ở Làng 1, trong ngôi nhà của chủ Pháp xây hai gian, mỗi cặp vợ chồng được phân ở một gian. Đi làm thì 4 giờ sáng chủ gõ kẻng, công nhân mang theo dụng cụ lao động, gô cơm, bình nước, lên xe ra lô, đến 4 giờ chiều thì quay về. Nhờ có sự đấu tranh của Hội tương tế, nên công nhân được trả lương đầy đủ, bệnh được đi khám và cấp thuốc uống. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh, và ở đâu có đấu tranh, ở đó có người hy sinh vì nghĩa lớn – nhiều cán bộ của Hội tương tế đã phải ngồi tù rồi hy sinh ngoài Côn Đảo.

Hai vợ chồng bác làm cho đồn điền CEXO đến ngày đất nước được giải phóng thì nghỉ, về làm ruộng rẫy quanh làng. Năm 1982, bác Thoan mất vì bệnh, thọ 60 tuổi. Bác Thái lao động miệt mài nuôi 6 người con, sau này có 3 người vào làm công nhân cho Công ty Lộc Ninh, hiện nay thì còn 4 đứa cháu đang làm công nhân cạo mủ. Ngày nay đã lớn tuổi, trí nhớ đã không còn minh mẫn nên bác không hồi tưởng được nhiều. Nhưng có những điều đã ăn sâu vào tâm thức khiến bác  có  thể nói rõ như đinh đóng cột: “Ngày xưa chúng tôi là phận làm thuê, bị bọn chủ Tây, cai xu quát nạt hàng ngày, nhiều khi oan ức lắm, nhục nhã lắm mà không dám cãi. Nay nhìn mấy đứa cháu thấy chúng thật hạnh phúc. Đi làm có lương, có thưởng, lại còn được tạo điều kiện làm thêm kinh tế phụ nâng cuộc sống lên, hàng năm còn được cho đi du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng… Cái quí nhất là đã trở thành người chủ của vườn cây. Mình cạo mủ cao su, được hưởng đúng công sức mình làm ra, không hề bị ai mắng chửi, đánh đập. Đã là chủ thì không gì hơn, các cháu phải cố gắng!”.

Bác Hoàng Thị Thái

Bác Hoàng Thị Thái

Một “siêu công tra” nói tiếng Tây… như Pháp!

“Là cựu công nhân đồn điền cao su Michelin Dầu Tiếng  trên 30 năm (1941- 1975), tôi đã sống những ngày tháng sôi động tại đây từ đầu tháng 3 năm 1945 đến khi Cách mạng tháng 8 thành công…”

– đó là những dòng đầu tiên trong bài hồi ký “Những ngày tháng không quên” của bác Hà Kim Mích, người phu công tra đã có thời gian làm việc khá dài ở Michelin rồi Cao su Dầu Tiếng sau này cho đến năm 1988 mới nghỉ hưu.

Cũng là dân công tra nhưng bác Mích thuộc loại “siêu công tra” khi có bằng Sơ học tiếng Pháp nên được chủ Tây trân trọng, đưa vào làm ở Kho vật tư đồn điền cao su Michelin, có trụ sở đặt tại 140 Hồng Thập Tự, Sài Gòn, sau đó chuyển về làm ở Văn phòng đồn điền.

Là dân có trình độ nên bác tiếp thu nhanh các công việc, được chủ Pháp tin tưởng. Nhưng cũng chính từ trình độ này mà bác dần hiểu ra những hy sinh cao cả vì nghĩa lớn của những người cách mạng. Trong hồi ký “Những ngày tháng không quên”, bác viết: “Đêm 9/3/1945, bọn quân phiệt Nhật đảo chánh Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Vài ngày sau, một toán quân đội Nhật từ Thủ Dầu  Một lên Dầu Tiếng. Một số đóng lại tại trường học xã Định Thành, một số tràn vào đồn điền chiếm nhà chủ sở Maurice Oberli. Chúng bắt tất cả người Pháp từ chủ sở, trưởng phòng đến các sếp làng khoảng trên 10 người… Tại khu nhà máy, sự hoạt động bị hạn chế đến mức tối thiểu, còn trong vườn cây, công nhân bị thất nghiệp. Quang cảnh các làng vắng vẻ, tiêu điều. Tình trạng ấy làm tăng thêm nạn đói, thiếu thốn đủ mọi bề, gây một tai họa cho công nhân và nông dân nói chung.

Trước tình hình bi quan ấy, hưởng ứng lời kêu gọi của Ban cán sự Đảng và tỉnh Thủ Dầu Một, phong trào công nhân cao su Dầu Tiếng được nhen nhúm, dần dần sôi nổi tích cực hơn. Việc điều hành nhà máy được sắp xếp, tổ chức lại, về quản lý hành chánh có các anh: Nghiệp, Mậu, Chỉ; về an ninh, thanh niên thì ba anh: Thành, Truyền, Hòa phụ trách. Để che mắt bọn Nhật, Ban quản lý yêu cầu học để cho công nhân tự lo về an ninh trong khu vực nhà máy. Nhờ đó, các anh phụ trách về thanh niên họp công nhân tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước và nhiệm vụ của tuổi trẻ lúc bấy giờ: bảo vệ an ninh trong khu vực và luyện tập quân sự sẵn sàng chiến đấu chống lại hai kẻ thù là Nhật và Pháp. Các anh dạy chúng tôi những bài hát Lên đàng, Thanh niên hành khúc, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng… Chúng tôi được luyện tập bán quân sự: vác gậy tầm vông vạt nhọn đi đều bước, tập bắn (bằng gậy tầm vông), bãi tập là sân banh xã Định Thành.

Tôi cần ghi lại những hoạt động tích cực của Ban điều hành cao su Dầu Tiếng trong thời kỳ này:
– Mở kho phát gạo, lúa, phân chia vải vóc cho công nhân.

- Chở hàng ngàn vỏ xe ô tô đem về Sài Gòn tiêu thụ để có tiền phát lương cho công nhân.

- Chỉ thị cho phân xưởng rèn dao găm, chĩa sắt, phân xưởng chế biến vỏ ô tô làm thêm dép cao su đế crếp có quai hậu để trang bị cho đội võ trang công nhân.

… Đêm 25/8/1945, quân đội Nhật ở Dầu Tiếng bị tấn công dữ dội. Cùng lúc đó, trong khu nhà máy lửa phát cháy ở nhiều nơi: những kho mủ, xưởng chế biến, kho vật tư, dãy văn phòng hành chánh. Quân Nhật chống cự yếu ớt, đến gần sáng rút lui khỏi Dầu Tiếng. Sáng hôm sau, các cơ quan đoàn thể đều nhất loạt treo cờ mới: cờ đỏ sao vàng! Nhân dân được tập hợp làm mít tinh mừng…”.

Cuộc đấu tranh gian khổ giành độc lập tự do của nhân dân ta nói chung và nhân dân Dầu Tiếng nói riêng kéo dài cho đến ngày 13/3/1975 thì quê hương Dầu Tiếng được hoàn toàn giải phóng. Bác Hà Kim Mích tiếp tục làm việc ở Công ty cao su Dầu Tiếng cho đến năm 1988 mới nghỉ hưu. Bác Mích quê ở làng Tân Khánh Trung, Đồng Tháp, trong khi đó vợ bác là bác Đoàn Kim Liên quê ở Dầu Tiếng, Bình Dương, chủ yếu sống bằng nghề buôn bán lặt vặt ở chợ Dầu Tiếng. Hai bác lập gia đình năm 1950, sau một năm tìm hiểu, khi ấy bác Mích 27, còn bác Liên vừa tròn 20 tuổi. Đến nay thì bác Mích đã 96 và bác Liên đã 89 tuổi. Hai vợ chồng có với nhau đến 12 người con và đã chịu thương chịu khó, chắt chiu nuôi dạy nên người. Hai bác hiện có 6 người con đang là cán bộ của Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng  là các anh chị: Hà Minh Mẫn (Phó GĐ NT Bến Súc); Hà Kim Giác (Phòng Kế hoạch Đầu tư công ty); Hà Kim Trúc (Nhà máy chế biến Long Hòa); Hà Kim Sơn (Nhà máy chế biến Phú Bình); Hà Kim Khánh (Nhà máy chế biến Bến Súc); Hà Thị Diệu Hòa (Văn phòng công ty).

Dù tuổi đã cao nhưng hai bác vẫn còn minh mẫn, yêu đời, ngày ngày quấn quít bên nhau nơi ngôi nhà ấm cúng ở thị trấn Dầu Tiếng. Bác Mích lạc quan: “Vợ chồng tôi chỉ có chút bệnh già, trái gió trở trời thì đau ốm lặt vặt thôi rồi lại khỏi”. Bác Mích vốn là một trí thức nên có thói quen đọc sách. Sáng ăn điểm tâm do vợ chế biến, uống chút cà phê rồi nhẩn nha đọc sách. Đến trưa ăn cơm, nghỉ một chút rồi lại tiếp tục đọc. Buổi sáng hôm chúng tôi tới nhà, bác đang đọc một cuốn sách về đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ. Bác Liên cho biết: “Ổng thích đọc sách về Bác Hồ, Bác Tôn. Ổng nói, vì đời hoạt động cách mạng của các bác thật là oanh liệt, càng đọc càng thấy hay và thấm thía về những hy sinh cao cả cho độc lập tự do của dân tộc”.

Buổi tối sau bữa cơm chiều, bác Mích xem chương trình thời sự 60 giây của Đài truyền hình TP.HCM, sau đó thì đi ngủ và thường thức dậy vào lúc 6 giờ. Và bác còn có một thói quen rất đáng trân trọng là viết hồi ký hoặc làm thơ, để nhớ về một thời công nhân cao su đã ngấm sâu vào máu thịt. Dưới đây là “Công nhân và vườn cây” – một bài thơ của bác:

Cao su Dầu Tiếng bạt ngàn/ Vườn cây thẳng tắp hàng hàng đẹp thay/ Công nhân chăm sóc hàng ngày/ Bón phân, dãy cỏ cho cây lên đều/ Đề phòng dịch bệnh ăn theo/ Ví như con mọn sớm chiều không quên/ Công lao nay được đáp đền/ Vườn cây xanh tốt hai bên lề đường/ Dáng cô thợ cạo thân thương/ Tay cầm dao bén mở đường trên cây/ Kìa! Dòng nhựa trắng đẹp thay/ Từ từ chảy xuống bát cài bên thân/ Chén cao, chén thấp xa gần/ Trông như bản nhạc người trần đang chơi/ Cô em thợ cạo vui tươi/ Dáng đi nhanh nhẹn kiêm người nhạc công/ Dạo lên khúc nhạc hào hùng/ Lòng thêm phấn khích ta cùng hát vang.

*Contrat, từ tiếng Pháp có nghĩa là hợp đồng. Trong quá trình làm cao su ở VN, chủ Pháp mộ phu ký hợp đồng nên gọi là phu contrat, dân ta gọi trại ra là phu công tra.

SÁU VƯỜN ƯƠM

Kỳ tới: Phát huy truyền thống, tôn tạo di tích

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0
Ý kiến của bạn

Please enter your name

Bắt buộc phải có tên

Please enter a valid email address

Bắt buộc phải có địa chỉ email

Please enter your message

Về đầu trang